Hôn nhân thực tế là gì?

- Hôn nhân thực tế là cách gọi đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn.

- Trong giai đoạn trước đây, đặc biệt tại các vùng nông thôn, miền núi hoặc do điều kiện lịch sử, nhiều cặp vợ chồng chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục mà không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước. Do đó, việc công nhận là hôn nhân thực tế giúp bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể tại thời điểm bây giờ.

- Để bảo đảm quyền lợi cho các gia đình này, pháp luật đã có quy định công nhận một số trường hợp hôn nhân thực tế được xác lập trước thời điểm nhất định để đáp ứng điều kiện không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận.

Vì sao ông bà ngày xưa không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận " hôn nhân thực tế"

 Căn cứ Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNHTC-BTP có đề cập về hôn nhân thực tế như sau:

"1. Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn( đủ điều kiện để công nhận là hôn nhân thực tế)

2. Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:

a. Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận" hôn nhân thực tế" là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Việc đăng ký kết hôn ( công nhận hôn nhân thực tế) theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.

b. Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

c. Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn."

Quy định về việc công nhận " hôn nhân thực tế" giúp tạo sự công bằng cho các chủ thể ở tại thời điểm mà luật pháp bây giờ chưa phổ biến về việc đăng ký kết hôn.

Hôn nhân thực tế là gì? Vì sao ông bà ngày xưa không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận? Quy định mới nhất 2026

Không đăng ký kết hôn có được pháp luật công nhận mối quan hệ vợ chồng ( Hôn nhân thực tế) không?

Việc chung sống với nhau như vợ chồng sau năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn mà được công nhận là " hôn nhân thực tế" được chia làm hai giai đoạn như sau:

Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001

Căn cứ Mục 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003; do đó, cần phân biệt như sau:

- Kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003 nếu họ chưa đăng ký kết hôn hoặc đã đăng ký kết hôn mà họ có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

- Cần chú ý trong trường hợp họ thực hiện việc đăng ký kết hôn ( công nhận hôn nhân thực tế) theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

- Việc đăng ký kết hôn ( công nhận hôn nhân thực tế) theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội do Bộ Tư pháp hướng dẫn.

- Kể từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ không được công nhận là vợ chồng; nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, bằng bản án tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng ( không công nhận hôn nhân thực tế); nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

- Kể từ sau ngày 01/01/2003 họ mới đăng ký kết hôn và sau đó một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp này, thì quan hệ vợ chồng của họ chỉ được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ đăng ký kết hôn.

Nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi

- Đối với trường hợp nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng( không công nhận hôn nhân thực tế).

- Nếu một trong các bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án để giải quyết và áp dụng điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng; nếu họ có yêu cầu về nuôi con và chia tài sản, thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết theo thủ tục chung.

Như vập, việc ông bà ngày xưa không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng là ngoại lệ mang tính lịch sử hay còn được gọi là hôn nhân thực tế, được quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 và các văn bản hướng dẫn nhằm bảo vệ các quan hệ hôn nhân thực tế được xác lập trước ngày 03/01/1987. Đối với các trường hợp hiện nay, pháp luật quy định rõ rằng việc đăng ký kết hôn là điều kiện bắt buộc để phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp ( không công nhận hôn nhân thực tế trong bất kỳ trường hợp nào). Do đó, các cặp đôi nên thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền để bảo đảm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.