Hợp đồng dân sự là gì?

Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Từ quy định này có thể thấy, hợp đồng được hình thành dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên. Các bên có thể thống nhất về đối tượng, quyền và nghĩa vụ, giá cả, phương thức thực hiện, thời hạn và các nội dung khác phù hợp với quy định pháp luật.

Ví dụ, A bán cho B một chiếc xe với giá 50 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận về chiếc xe, giá bán, phương thức thanh toán và việc giao nhận xe. Sự thỏa thuận này làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa A và B và có thể được xác lập thành hợp đồng mua bán tài sản.

Hợp đồng dân sự có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Một số hợp đồng thường gặp gồm hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng dịch vụ và hợp đồng đặt cọc.

Theo Điều 386 Bộ luật Dân sự 2015, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng. Quy định này là cơ sở cho quá trình hình thành hợp đồng khi một bên đưa ra đề nghị và bên còn lại chấp nhận theo quy định pháp luật.

Hợp đồng dân sự là gì?

Các bên cần đáp ứng điều kiện gì khi giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự?

Để hợp đồng có hiệu lực, trước hết cần đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo đó, chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Việc giao kết hợp đồng cũng phải dựa trên sự tự nguyện của các bên.

Bên cạnh đó, mục đích và nội dung của hợp đồng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đối với những hợp đồng mà pháp luật quy định phải tuân thủ điều kiện về hình thức thì các bên cũng phải thực hiện đúng yêu cầu đó.

Về hình thức, Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

Nội dung của hợp đồng được quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, các bên có quyền thỏa thuận về nội dung hợp đồng. Một số nội dung có thể bao gồm đối tượng của hợp đồng, số lượng, chất lượng, giá và phương thức thanh toán, thời hạn, địa điểm và phương thức thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp.

Do đó, khi giao kết hợp đồng dân sự, các bên nên xác định rõ những nội dung quan trọng của thỏa thuận để hạn chế tranh chấp trong quá trình thực hiện.

Khi nào hợp đồng dân sự có hiệu lực, bị vi phạm hoặc chấm dứt?

Theo Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đã cam kết. Việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng nghĩa vụ có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Trường hợp vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại thì về nguyên tắc phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Trong một số trường hợp, hợp đồng có thể bị vô hiệu. Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng vô hiệu và áp dụng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này.

Ngoài ra, hợp đồng có thể chấm dứt theo các trường hợp được quy định tại Điều 422 Bộ luật Dân sự 2015, chẳng hạn như hợp đồng đã được hoàn thành, theo thỏa thuận của các bên, cá nhân giao kết hợp đồng chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện hoặc các trường hợp khác theo quy định pháp luật.

Trường hợp một bên muốn chấm dứt việc thực hiện hợp đồng trước thời hạn, cần xem xét quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 và điều khoản cụ thể mà các bên đã thỏa thuận.

Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận giữa các bên mà còn là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Khi giao kết hợp đồng, các bên cần kiểm tra điều kiện có hiệu lực, nội dung, hình thức và quyền, nghĩa vụ của từng bên. Việc xác định rõ những vấn đề này giúp hạn chế tranh chấp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Xem thêm: Giao dịch dân sự là gì?